Chào mừng quý vị đến với website của Thạch Bảo
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành
viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của
Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Chùa Thiên Mụ (Huế)

Nguồn:
Người gửi: Trần Công Thanh
Ngày gửi: 05h:10' 14-02-2012
Dung lượng: 81.8 KB
Số lượt tải: 0
Mô tả:
Lịch sử hình thành chùa Thiên Mụ
Trước thời điểm khởi lập chùa, trên đồi Hà Khê có ngôi chùa cũng mang tên Thiên Mỗ hoặc Thiên Mẫu, là một ngôi chùa của người Chăm.
Truyền thuyết kể rằng, khi chúa Nguyễn Hoàng vào làm Trấn thủ xứ Thuận Hóa kiêm trấn thủ Quảng Nam, ông đã đích thân đi xem xét địa thế ở đây nhằm chuẩn bị cho mưu đồ mở mang cơ nghiệp, xây dựng giang sơn cho dòng họ Nguyễn sau này. Trong một lần rong ruổi vó ngựa dọc bờ sông Hương ngược lên phía đầu nguồn, ông bắt gặp một ngọn đồi nhỏ nhô lên bên dòng nước trong xanh uốn khúc, thế đất như hình một con rồng đang quay đầu nhìn lại, ngọn đồi này có tên là đồi Hà Khê.

Chùa Thiên Mụ nhìn từ sông Hương
Người dân địa phương cho biết, nơi đây ban đêm thường có một bà lão mặc áo đỏ quần lục xuất hiện trên đồi, nói với mọi người: "Rồi đây sẽ có một vị chân chúa đến lập chùa để tụ linh khí, làm bền long mạch, cho nước Nam hùng mạnh". Vì thế, nơi đây còn được gọi là Thiên Mụ Sơn.
Tư tưởng lớn của chúa Nguyễn Hoàng dường như cùng bắt nhịp được với ý nguyện của dân chúng. Nguyễn Hoàng cả mừng, vào năm 1601 đã cho dựng một ngôi chùa trên đồi, ngoảnh mặt ra sông Hương, đặt tên là "Thiên Mụ".

Kiến trúc chùa Thiên Mụ
Ngay mặt trước của ngọn đồi đã được sửa sang thành nhiều bậc, mỗi bậc đều có kè đá vững chắc. Có thể nói toàn bộ thiên nhiên nơi đây đã tạo cho cảnh chùa Thiên Mụ trở thành một cảnh chùa độc đáo, có vẻ đẹp rất lạ lùng, là một trong những thắng cảnh nổi tiếng của Việt Nam.

Không kể các tầng bậc của ngọn đồi, chỉ kể đến mặt phẳng kiến trúc chùa thì vùng đất này dài đến 250m và rộng được 75m. Ba mặt đều có xây thành cao 2,30m như mộ La Thàn; mặt trước là tầng cấp lên chùa. Đại thể, theo hướng thiên nhiên của ngọn đồi, chùa Thiên Mụ là kiến trúc hình chữ "Nhất", tức là theo một trục thẳng từ trước ra sau theo hướng Bắc - Nam.
Tuy trong đại thể, chùa được kiến trúc theo hình chữ "Nhất", song lại có hai phần kiến trúc mang sắc thái có tính cách đặc trưng rõ ràng. Nếu không kể các bậc tầng cấp và bốn trụ hoa biểu, chỉ kể mặt phẳng thì phần ngoài gồm có: hai vòng thành thấp có đính gạch men hoa chạt theo đường lượn thiên nhiên của ngọn đồi, để giáp với hai đoạn thành cao chạy từ Nghi môn ra hai hướng Đông - Tây. Những đoạn thành thấp, cao đã tạo thành giới vi cho phần ngoài này. Sau khi lên hết tầng cấp cuối cùng là hầu như khách vãn cảnh đã đứng trên mặt phẳng của phần ngoài. Rất đăng đối, trước hết và ở giữa có một cái nền vuông, đó là nền cũ của đình Hương Nguyện ngày xưa. Hai bên tả hữu của nền này, thụt vào trong là hai bi đình tứ giác của vua Thiệu Trị. Sau nền cũ của đình Hương Nguyện ấy là tháp Phước Duyên đã được xây theo hình bát giác. Tháp Phước Duyên là một biểu tượng nổi tiếng gắn liền với chùa Thiên Mụ. Tháp cao 21 m, gồm 7 tầng, được xây dựng ở phía trước chùa vào năm 1844. Mỗi tầng tháp đều có thờ tượng Phật. Bên trong có cầu thang hình xoắn ốc dẫn lên tầng trên cùng, nơi trước đây có thờ tượng Phật bằng vàng. Hai bên tháp, cách lối đi vào Nghi Môn có hai nhà lục giác đúc cuốn, mái trùng thiềm, cao to hơn hai bi đình phía ngoài. Đó là nhà để bia và nhà chuông của chúa Nguyễn Phúc Chu.

Tháp Phước Duyên
Đặc trưng về kiến trúc của phần này là đường nét to, dày dặn và kiên cố, có tính cách miên viễn trước sức phá hoại của thời gian, của mưa nắng. Bố cục vị trí xây cất thật cân đối, chặt chẽ và hài hòa. Sự chọn hình, tỷ lệ lớn nhỏ, cao thấp rất phân minh. Khoảng cách giữa các vị trí kiến trúc đều đặn, cân xứng, làm cho toàn bộ liên hệ với nhau rất chặt chẽ, nhất thống. Cũng thuộc về phần này, hai đầu cùng của hai đoạn thành từ Nghi Môn chạy ra, còn có hai cửa ra vào xây từ đời Gia Long, hiện nay bỏ trống không có ánh đóng, cũng không có cửa ra vào.

Phần trong là phần từ Nghi Môn trở vào. Theo trục hoành với Nghi Môn, phía tây có lầu trống, phía đông có lầu chuông. Hai nhà này chỉ vào bên trong mới thấy rõ; đứng ở phần ngoài khách vãn cảnh chỉ thấy phần trên, còn phần dưới đã được xây chung với đoạn thành. Hai bên tả hữu có hai Lôi Gia đối mặt vào nhau. Một cái sân rất rộng với ba lối đi, hai dãy bồn cỏ có sáu bồn hoa, hai bên có hai vườn dừa và dương liễu. Hết sân có một tòa nhà rất lớn, cổ kính, trang nhã là Đại Hùng Bửu Điện, phần chính của ngôi chùa. Nằm ngay sau Điện Đại Hùng, cách một vườn hoa là cây quả thấp như chanh, cam cành lá xum xuê là Điện Địa Tạng. Điện thờ Quan Công nguyên sơ nằm về phía trái sau lưng điện Đại Hùng. Sau lưng Điện Địa Tạng, có cách một lối sân rất yên lặng thì đến điện Quán Âm.
Trở lui, về phía Tây, nằm vào khoảng giữa góc tây Điện Đại Hùng và góc tây - nam Điện Địa Tạng nhìn mặt về hướng đông có nhà khách, tăng xá và thiền trù kết hợp lại thành một tòa.

Toàn thể phần trong này được bao quanh bởi một vòng thành cao, chân kè đá rất vững chắc, khi hai cửa ra vào ở phía tây đông và các cửa tam quan ở Nghi Môn đã đóng lại thì toàn bộ nhà cửa điện đài của chùa Thiên Mụ đã ở vào tình trạng khép kín hoàn toàn. Đặc trưng kiến trúc của phần này là tính cách thanh mảnh so với kiến trúc phần ngoài. Trong lúc các kiến trúc ở phần ngoài xây đúc cuốn, thì các kiến trúc ở phần trong lại làm "giàn trò" với cột, kèo, đấm, quyết, rui, mè đều bằng gỗ. Ở ngoài thiên về ngành nề, ở trong thiên về ngành mộc. Tháp ở phần ngoài vươn lên chiều cao; chùa ở phần trong đi mũi vào chiều sâu theo đường thẳng chữ "Nhất". Cho nên toàn cảnh kiến trúc chùa, tháp xưa ở Thiên Mụ đã có được cái nội hàm triết lý phương Đông rất huyền diệu.
Số lượt thích:
0 người
 

Các ý kiến mới nhất